Thời gian gần đây, không ít vùng nông thôn trong tỉnh, việc rác được tập kết, rác bị ùn ứ nơi đầu làng, giữa thôn xóm, trên các triền để... đã không còn là hình ảnh khó gặp. Có nơi, bãi chôn lấp quá xa cần phải có thời gian để vận chuyển, nhiều nơi lại chưa có quy hoạch, quỹ đất để chôn lấp, xử lý rác. Và nếu có thì người dân đều lo ngại, không đồng tình “Đón nhận” khi có quy hoạch làm bãi rác tại địa phương mình.

 

Vì vậy, các cuộc họp nóng nhằm đưa ra chỉ là biện pháp giải quyết tình thế, chưa có giải quyết triệt để vấn đề ô nhiễm môi trường. Nhìn chung, các ý kiến đều đồng tình cho rằng tỉnh, địa phương cần sớm quy hoạch bãi rác lớn để thu gom chất thải, xử lý chất thải hợp vệ sinh đồng thời đầu tư công nghệ thiết bị hiện đại đê xử lý rác tập trung một cách hiệu quả, bền vững... nhưng đây vẫn là bài toán khó: Khó vì quỹ đất quá lớn để làm bãi chôn lấp rác, chi phí đầu tư cao, khó cả trong việc lựa chọn công nghệ xử lý sao cho hiện đại nhưng vẫn phải phù hợp với điều kiện của Việt Nam - là một nước có thu nhập trung bình... trong khi lượng rác sinh hoạt ngày càng tăng, và dường như không biết “chờ đợi”.

Tìm “Lời giải” cho “Bài toán” này, thời gian gần đây, cũng như nhiều tỉnh thành khác trong cả nước, Vĩnh Phúc đã nghiên cứu, tìm hiểu các mô hình xử lý rác theo công nghệ vi sinh kết hợp chôn lấp, nghiên cứu chế tạo các lò đốt công suất nhỏ, thậm chí đi thăm những mô hình lò đốt đang hoạt động ở các nước như Thái Lan, Malaysia, Philippines... để đầu tư và áp dụng tại địa phương, trong đó, có lò đốt rác bằng không khí tự nhiên - GFC Sankyo NFi 05 - công nghệ Nhật Bản, được sản xuất tại Thái Lan.

Rác thải sinh hoạt hộ gia đình được thu gom vận chuyển tập kết tại bãi, tiến hành phân loại rác trước khi đốt. Công suất đốt lớn nhất khoảng 10 tấn rác/ngày đêm, với khả năng đốt liên tục hoặc ủ giữ nhiệt từ 1 - 1,5 ngày, rác sinh hoạt hữu cơ có độ ẩm cao đến 50% vẫn được đốt cháy khá triệt để. Mặc dù còn nhiều ý kiến khác nhau khi so sánh giữa lò đốt công nghệ của Nhật Bản sản xuất tại Thái Lan và các loại lò đốt khác sản xuất trong nước. Xong theo nhiều chuyên gia đã đánh giá: công nghệ Nhật Bản sản xuất tại Thái Lan rất phù hợp với vùng nông thôn, biên giới và hải đảo.

Tại các địa phương sau một thời gian đưa lò đốt GFC Sankyo NFi-05 vào sử dụng, lượng rác thải trên địa bàn được giải quyết khá triệt để, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, đảm bảo chất lượng đời sống cho nhân dân... đặc biệt, kết quả đo thử nghiệm của Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng - Trung tâm Kỹ thuật tiêu chuẩn đo lường chất lượng 1 cho thấy, các thông số về bụi tổng, HF, SO2, Hg... đều nằm trong giới hạn cho phép theo tiêu chuẩn QCVN 30 của Bộ Tài nguyên và Môi trường (QCVN 30:2012/BTNMT). Trên cơ sở đánh giá, kiểm nghiệm thực tế, các tỉnh đều thống nhất là lò đốt rác thải GFC Sankyo Nfi - 05 là hoàn toàn phù hợp với điều kiện rác thải sinh hoạt nông thôn hiện nay. Từ kết quả trên tỉnh Vĩnh Phúc cũng như một số tỉnh khác đã quyết định nhân rộng mô hình này tại một số địa phương khác trên địa bàn tỉnh để giải quyết ô nhiễm môi trường nông thôn. Đến nay trên địa bàn tỉnh đã có 20 địa phương lựa chọn lò đốt GFC Sankyo Nfi - 05 để xử lý rác thải trên địa bàn.

Trao đổi với phóng viên, ông Nguyễn Xuân Huân, Chủ nhiệm Hợp tác xã Môi trường Tam Hợp, huyện Bình Xuyên cho biết: Tháng 5 năm 2015, chúng tôi chính thức đưa vào vận hành lò đốt GFC Sankyo NFi-05. Trước đây, rác trên địa bàn xã được tập hợp tại một điểm, sau đó, thuê một đơn vị chở đi chôn lấp hoặc xử lý. Rác chất đống, để đó đến hàng tuần mới vận chuyển đi nên mùi rất khó chịu, mất vệ sinh, ruồi muỗi nhiều, ô nhiễm môi trường. Nhưng 4 tháng trở lại đây, từ khi được đầu tư lò đốt thì rác được xử lý triệt để, khoảng 8 tấn/ngày, tại các đường làng, đường thôn, xóm… không còn cảnh các đống rác tạm như trước. Người dân từ lo ngại khi đặt lò đốt rác tại địa bàn xã, đến nay, đã yên tâm, vui mừng và ủng hộ khi thấy được hiệu quả của thiết bị này, vệ sinh môi trường được cải thiện rõ rệt.

Lò đốt GFC Sankyo Nfi - 05

Đó cũng chính là những cảm nhận chung của đơn vị vận hành, đặc biệt là người dân… tại các địa phương đã và đang áp dụng công nghệ lò đốt GFC Sankyo Nfi - 05 tại địa phương như: Vĩnh Tường, Tam Đảo, Tam Dương, Yên Lạc, Lập Thạch...

Lò đốt GFC Sankyo NFi 05 được Hội đồng thẩm định công nghệ của Bộ Khoa học và Công nghệ (thành lập theo Quyết định số 77/QĐ-BKHCN ngày 16/1/2014) thẩm định và đánh giá trong cuộc họp ngày 10/3/2014. Trên cơ sở đó, Bộ Khoa học và Công nghệ đã có văn bản số 1498/BKHCN - ĐTG ngày 28/4/2014, trong đó nhận định: “Lò đốt chất thải rắn GFC - Sankyo NFi - 05... sử dụng công nghệ đốt chất thải rắn sinh hoạt bằng không khí đối lưu tự nhiên... là một giải pháp phù hợp để xử lý rác thải sinh hoạt có quy mô nhỏ tại khu vực nông thôn, thay thế cho việc xử lý rác thải sinh hoạt hiện còn phổ biến là chất đống lộ thiên, chôn lấp đơn giản, gây ô nhiễm môi trường và gây mất cảnh quan”.

Bên cạnh một số điểm cần khắc phục, đổi mới cho phù hợp hơn với tính chất rác thải của Việt Nam như: Bố trí thêm công đoạn phân loại rác đầu nguồn; nghiên cứu để chế tạo, nội địa hoá các thiết bị trong dây chuyền nhằm hoàn thiện thêm công nghệ và giảm giá thành sản phẩm, cũng theo Hội đồng thẩm định công nghệ - Bộ Khoa học và Công nghệ, lò đốt rác thải sinh hoạt GFC Sankyo Nfi - 05 có những ưu điểm đáng ghi nhận như: Lò dùng không khí tự nhiên tuần hoàn (không dùng quạt) và không sử dụng điện cũng như nhiên liệu hoá thạch trong quá trình hoạt động; chi phí đầu tư và vận hành thấp hơn các công nghệ khác; đáp ứng yêu cầu xử lý rác thải sinh hoạt tại khu vực nông thôn (làng, xã, thị trấn) trong điều kiện không đủ kinh phí đầu tư các công nghệ đốt rác có quy mô công suất lớn; Đặc biệt, kết quả đo thử nghiệm đáp ứng tiêu chuẩn, quy chuẩn về môi trường của Việt Nam... Và mặc dù quy cách vận hành của lò đốt khá dễ dàng nhưng để đảm bảo đạt được hiệu quả cao cũng rất cần được tuân thủ và thực hiện đúng cách, đúng quy trình theo khuyến cáo của nhà sản xuất.

Trên cơ sở những ưu điểm đã và đang được ghi nhận trong việc xử lý rác sinh hoạt quy mô nhỏ, mong rằng thời gian tới thiết bị lò đốt GFC Sankyo Nfi -05 sẽ được nghiên cứu, cải tiến, nâng cấp hơn nữa để có thể đáp ứng được những yêu cầu ngày càng cao về bảo vệ môi trường, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống, đảm bảo sức khỏe của người dân, chung tay xây dựng thành công chương trình xây dựng nông thôn mới ở địa phương.